Bảo tàng di tích Đạm Thủy

Quầy bán vé

Audio tour

“Quan thự ty thuế vụ cửa khẩu Đạm Thủy thời Thanh” nằm ở khu Phố Đỉnh Đạm Thủy, vì tường của kiến trúc đều sơn màu trắng, nên được người dân địa phương gọi là “Nhà Trắng thu nhỏ”.
Năm 1862 Đạm Thủy thiết lập Cửa khẩu Hobe, chính thức bắt đầu việc thu thuế quan. Cửa khẩu Hobe là cơ quan thuế hải quan đầu tiên quản lý mậu dịch nước ngoài của Đài Loan, sau này khi những hải quan khác như An Bình, Kê Long (Cơ Long), Đả Cẩu (Cao Hùng) được thiết lập, thì Cửa khẩu Hobe vẫn được xem là tổng cục, tổng quản lý Công việc nghiệp vụ hải quan của toàn Đài Loan.
Năm 1863 triều đình nhà Thanh đồng ý cho người Tây đảm nhận chức phó cục thuế, và nắm quyền kiểm soát cả về hành chính lẫn thuế vụ ở cửa khẩu. Cửa khẩu Hobe dưới sự quản lí của những quan thuế vụ người nước ngoài, trở thành một cảng quốc tế có chế độ quản lý đồng thời cũng mang lại nhiều ích lợi cho triều đình nhà Thanh.
Khi công việc ở cửa khẩu càng lúc càng phức tạp, số lượng nhân viên hải quan người nước ngoài cũng ngày một tăng, vì thế họ đã cho thu mua khu đất ở Phố Đỉnh để xây dựng quan thự nhằm giải quyết vấn đề chỗ ở. Năm 1875 lại xây thêm hai ký túc xá cho thư ký và các nhân viên hải quan cấp thấp. Người dân địa phương gọi đây là “Ba căn nhà Phố Đỉnh”. Thế nhưng vào năm 1884, chiến tranh Thanh-Pháp đã phá hủy ký túc xá của viên chức cấp thấp.
Vào thời kỳ chiếm đóng của Nhật, cảng Đạm Thủy dần suy thoái và giảm thuế, nên trưởng thuế quan Nhật đã tổ chức ra “Câu lạc bộ ngũ thập hội”, xây dựng lại quan thự bị phá hủy và đổi thành văn phòng tiếp đón và nhà khách. Sau khi Đài Loan giải phóng, nơi đây được bộ tài chính thuế quan Đài Bắc tiếp nhận lại
(Cục thuế Cơ Long), nguyên ba tòa nhà giờ đây chỉ còn lưu lại tòa nhà này, năm 1950 trở thành nơi ở của sở trưởng cục thuế quan người Mỹ Lester Knox Little. Năm 1996, Nhà trắng thu nhỏ đứng trước nguy cơ phải tháo dỡ và xây lại, may rằng dưới sự ngăn chặn của người dân địa phương cùng các học giả chuyên môn, đã được Bộ nội vụ thẩm định trở thành di tích cấp 3 (di tích thành phố) vào năm 1997 và bảo tồn cho đến ngày nay.

Tường đấu tử

Audio tour

Nhìn vào hiện trạng của tường rào có thể thấy rằng còn sót lại một bộ phận gạch đen chồng xếp thành tường rào đấu tử từ thời xây dựng Nhà trắng thu nhỏ, và trong quá trình trùng tu đã vận dụng thêm những vật liệu khác để sửa chữa.

Đầu ống nước

Audio tour

Thời kỳ Nhật chiếm đóng đã tích cực quy hoạch xây dựng đường ống nước, cho xây dựng Nhà máy cung cấp nước đầu tiên của Đài Loan ở Đạm Thủy, và dẫn nguồn nước suối từ dưới chân núi Đại Đồn để cung ứng nước sạch một cách ổn định, giảm đi nỗi cực nhọc trong việc gánh nước của người dân địa phương, đồng thời cũng có chức năng chữa cháy. Do thiết bị lấy nước trông giống với hòm thư, nên người dân ở đây gọi là “Đầu ống nước”

Đài quan sát

Audio tour

Từ vị trí này, ở đằng xa có thể ngắm nhìn Núi Quan Âm và sông Đạm Thủy, đem vẻ đẹp nên thơ của Đạm Thủy thu gọn trong tầm mắt. Về tên gọi của núi Quan âm ở bờ đối điện kia, trước đây gọi là “Núi Bát Lý Bộn” hay “Núi Hưng Trực”, nhưng về việc xuất hiện tên “Núi Quan Âm” sau này thì ý kiến vẫn chưa đồng nhất. Có người nói vì hình dạng núi như Đức Quan Âm Bồ Tát nằm ngửa, nơi cao nhất trông giống cằm của Quan Âm, nơi lõm xuống trông như hốc mắt, tiếp đó là trán rồi kéo dài xuống biển, do tổng quan rất giống với sườn mặt của Quan Âm, nên mới có tên gọi đó. Cũng có người bảo rằng, trên núi có miếu thờ phụng Quan Âm Bồ Tát nên ngọn núi ấy mới có tên như vậy.

Bia đá địa giới và cây hoa sứ

Audio tour

Thời kỳ Nhật chiếm đóng đã cho thiết lập lại cửa khẩu thu thuế ở Đạm Thủy, và lập bia đá đánh dấu ở địa giới khu vực ấy, đây cũng chính là nguồn gốc xuất xứ của bia đá địa giới của cửa khẩu thuế Đạm Thủy.
Sau khi Đài Loan giải phóng, sở trưởng tổng cục thuế vụ Lester Knox Little đã xác lập lại vùng đất thuộc về cơ quan hải quan, và cho xây dựng lại nhiều “Bia đá địa giới công thự tổng ty thuế vụ” ở trên khu đất của ký túc xá quan viên và cửa khẩu Đạm Thủy.
Ngày nay bia đá địa giới “Đất thuộc cửa khẩu thuế Đạm Thủy” còn lại bốn bia, giai đoạn đầu chuẩn bị của Viện Bảo tàng Hải quan đã thu thập một bia, ba bia còn lại đã được tìm thấy trong lúc trùng tu cảng cửa khẩu năm 2014, và sau đó cũng giao cho Bảo tàng Di tích Đạm Thủy cất giữ. Ngoài ra, “Bia đá địa giới công thự tổng ty thuế vụ” ngày nay còn 3 bia: một bia do Viện Bảo Tàng Hải quan cất giữ, một bia nằm trước số 364 đường Trung Chính, Đạm Thủy, bia còn lại do Bảo tàng Di tích Đạm Thủy cất giữ. Ngoài ra, bảo tàng còn lập lại vài bia đá “Đất thuộc cửa khẩu Đạm Thủy” và “Bia đá địa giới công thự tổng ty thuế vụ” trong Nhà Trắng thu nhỏ để làm lưu niệm.
Ở sân trước Nhà Trắng thu nhỏ, gần về phía cửa có một cây hoa sứ cao to, sức sống mãnh liệt, hương thơm ngào ngạt, mang đậm sắc thái xứ người. Tương truyền cây sứ này do người Anh trồng, đã đứng sững qua trăm năm trong Nhà trắng thu nhỏ, nay được chính phủ thành phố Tân Bắc công nhận liệt vào hàng “cây quý giá”.

Bảng chú thích cây tùng

Audio tour

Trong thời gian Anh thiết lập thuộc địa tại các lãnh thổ châu Á như Hongkong, Singapore, thường cho xây những hành lang mang phong cách kiến trúc thuộc địa, và Nhà trắng thu nhỏ chính là một kiến trúc đại diện điển hình. Đặc trưng của loại hình kiến trúc này là nâng cao nền móng, mái nhà bốn dốc, xung quanh có những chòi nghỉ mát như hành lang, những cửa sổ lớn và ống khói…
Nền móng của Nhà trắng thu nhỏ được xây lên bằng đá, nâng cao khỏi mặt đất khoảng một mét, làm tôn lên vẻ quý phái cho cổng ra vào của kiến trúc. Ở xung quanh phía ngoài, cứ cách vài mét lại có một cửa sổ sắt hình vuông dùng để thông gió và chống ẩm.
Ngoài ra, Nhà trắng thu nhỏ có những chòi nghỉ mát được thiết kế trong như hành lang ở ba mặt đông, tây, nam, chiếm diện tích khá lớn. Ở mặt trước của Nhà trắng thu nhỏ, đối diện với sông Đạm Thủy có mười một cửa vòm, ở hai mặt đông tây cũng có bốn cửa vòm ở mỗi bên. Những cửa vòm này đối xứng nhau, tạo nên nét đẹp hài hòa cho khung cảnh.
Những hành lang vòm cung ở ba mặt đông, tây, nam, ngoài công dụng che mưa chắn gió, còn có thể tăng thêm diện tích chiếu sáng, để mỗi không gian đều có tầm nhìn rộng và tràn ngập ánh sáng tự nhiên, cung cấp một khoảng không gian thư giãn tốt nhất cho người sử dụng. Đồng thời, vị trí của mỗi cửa sổ cũng hô ứng với cửa vòm của hành lang, cửa sổ màn trập bằng chất liệu gỗ vừa có thể điều chỉnh tia sáng, vừa làm tăng hiệu quả che nắng. Đặc trưng của mái nhà bốn dốc là tiện lợi cho việc thoát nước, nóc nhà nâng cao làm tăng không gian nội thất, ngoài việc có thể thiết kế thành gác mái, còn có tác dụng cách nhiệt.

Khu trưng bày thuế quan

Audio tour

Căn phòng hiện tại có một lò sưởi ở trung tâm, tường bên trong ngăn cách thành ba không gian, trong đó gian có lò sưởi có diện tích lớn hơn, theo suy đoán rằng đây là phòng làm việc và phòng đọc sách, hoặc cũng có thể là gian phòng sinh hoạt kiểu nhỏ.
Tuy khí hậu Đài Loan thuộc vùng cận nhiệt đới, không cần dùng đến lò sưởi, nhưng qua những bài trí mang phong cách châu Âu như thế này, cũng đã phản ánh nỗi nhớ quê hương của những con người chủ nghĩa thực dân xa xứ.
Còn tường ngăn cách bên trong của gian phòng nhỏ hơn đã bị phá bỏ và hợp thành một gian lớn, theo suy đoán thì đây có lẽ được sử dụng làm phòng tắm hoặc nhà kho.

Sảnh chính

Audio tour

Hiện tại nằm ngay giữa Nhà trắng thu nhỏ, và cũng là gian phòng lớn nhất, cánh cửa ở hai bên trái và phải tiếp nối với lối đi dẫn đến cổng chính, theo suy đoán cho rằng đây là không gian công cộng cho việc tiếp đãi, là phòng tiếp khách chính thức, hoặc cũng có thể là không gian sinh hoạt lớn hơn.
Tường phía sau của sảnh chính có hai lỗ hổng hình chữ nhật trông có vẻ là cửa sổ, nhưng trên thực tế lại không mang công dụng của cửa sổ. Hai lỗ hổng này vốn được tạo ra nhằm chuyển tiếp thức ăn từ phòng bếp được xây thêm ở phía sau trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, do đó công dụng của sảnh chính từng vừa làm nơi tiếp khách vừa là phòng ăn.

Phòng trưng bày phong cách kiến trúc

Audio tour

Căn phòng hiện tại có hai cửa dẫn ra lối đi, theo thiết kế đối xứng thì có thể thấy rằng căn phòng này vốn dĩ được ngăn làm hai, chủ yếu để làm phòng ngủ.
Tường ngăn ở giữa có lẽ đã được phá bỏ trong lúc trùng tu và ghép lại thành một phòng ngủ chính rộng lớn, ngoài ra còn xây thêm một căn phòng ở hành lang để làm phòng tắm. Qua vết tích của những vòm cung, ta có thể thấy được diện mạo vốn có của Nhà trắng thu nhỏ với bốn hành lang vòm cung đối xứng ở hai bên.

Quầy vé

Audio tour

Năm 1884 chiến tranh giữa Pháp và triều đình nhà Thanh nổ ra, chiến trường chính từ Cơ Long lan rộng đến Đạm Thủy. Khi nhà Thanh thắng trận và ký hòa ước, cũng dẫn đến việc nâng lên thành tỉnh của Đài Loan. Tuần phủ đầu tiên của Đài Loan ông Lưu Minh Truyền hiểu rõ tầm quan trọng và yếu kém trong bảo vệ đường biển, nên đã cho xây dựng thêm pháo đài ở các cửa biển để nâng cao hiệu quả phòng vệ.
Năm ấy đã mời kỹ sư người Đức Lieut Max E.Hecht xây dựng mười pháo đài kiểu Tây ở khắp Đài Loan, trong đó cũng bao gồm pháo đài với tên “Chìa khóa Bắc Môn” ở trên cửa. Pháo đài ở gần cửa sông Đạm Thủy, cũng là điểm quan sát cao nhất ở gần cửa biển, có thể nắm bắt rõ tình hình của sông Đạm Thủy và tàu thuyền đi lại trên sông. Thời kỳ Nhật chiếm đóng, mặc dù giá trị quân sự của Đạm Thủy không cao như dưới thời nhà Thanh, nhưng nơi đây vẫn được giữ làm nơi luyện tập của pháo binh. Khi Đài Loan giải phóng, pháo đài Hobe do quân đội quốc gia Đài Loan trấn giữ, năm 1985 được chỉ định là di tích quốc gia, sau khi được chính phủ huyện Đài Bắc (chính phủ thành phố Tân Bắc) tu sửa, nơi đây bắt đầu mở cửa cho khách tham quan. Bởi từ sau khi xây dựng xong vào năm 1886 đến nay đều không xảy ra bất kỳ chiến dịch nào, nên pháo đài Hobe vẫn được bảo tồn khá hoàn chỉnh.

Chìa khóa Bắc Môn

Audio tour

Pháo đài Hobe nằm ở trên cao có tầm nhìn rộng, xung quanh bốn phía là những lũy đất và rừng cây rậm rạp, vị trí bí mật khó bị phát hiện, đặc tính khó công dễ thủ, là một “pháo đài ngầm” có tính phòng ngự rất cao. Bố cục của pháo đài được thiết kế theo hình chữ “hồi” ( 回 ), tọa Tây Bắc hướng Đông Nam, đối diện với sông Đạm Thủy, từ ngoài vào trong gồm lũy đất, hào nước, cửa trại, tường chính, bệ pháo, đất phủ, dũng đạo và quảng trường.
Lũy đất còn gọi là tường mẫu, là lớp tường được xây nên bằng đất ở vòng ngoài và cao bằng khoảng độ cao của pháo đài, có chức năng che chắn và phòng ngự.
Giữa lũy đất và tường chính là hào nước, đây là hào nước phòng ngự quanh thành.
Lối ra vào duy nhất của pháo đài là cửa trại ở phía Đông Nam, trên cửa còn có bốn chữ “Chìa khóa Bắc Môn” do Lưu Minh Truyền đề bút, lối ra vào là cổng hình vòm, phía trên cửa đều được làm từ đá núi Quan Âm.
Tường chính, hay tường tử, là lớp tường chủ yếu của pháo đài. Để tạo ra pháo đài không thể phá vỡ, Lưu Minh Truyền đã đặc biệt sử dụng ma tít chứa mạt sắt từ phương Tây để xây tường chính. Loại ma tít chứa mạt sắt này vào thời đó rất quý giá, cho nên có một bộ phận của tường chính được thay bằng tường đất và gia cố bằng một lớp ma tít chứa mạt sắt ở bên ngoài. Ngày nay ở cổng ra vào vẫn còn giữ lại hai thùng ma tít chứa mạt sắt đã khô cứng, thời ấy dùng thùng gỗ để chứa đựng.
Ở trên nóc trại lính được phủ lên một lớp đất phủ, loại đất này mềm và có hiệu quả hấp thụ đạn, nơi đất phủ nhô lên như ống khỏi thật ta là lỗ thông gió của trại lính.

Quảng trường trung ương

Audio tour

Năm 1886 pháo đài Hobe được xây dựng xong, ở trong quảng trường vốn có một kiến trúc trại lính, nhưng qua nhiều lần tu sửa của những thời đại khác nhau, trại lính đó đã được san bằng, chỉ còn lại một số di tích tường bọc. Trong thời kỳ quân đội quốc gia trấn thủ, từng cho xây nhiều cơ sở hạ tầng như sân khấu ngoài trời, sân bóng rổ, ngày nay sân khấu ngoài trời đã bị dỡ bỏ.
Các loài thực vật được trồng ở lũy đất hay tường chính bên ngoài và không gian bên trong khá là phong phú. Về phía tường phía Bắc, chủ yếu trồng cây xoan, mùa xuân cành là xum xuê nở rộ những đóa hoa màu tím, còn mùa đông lá rụng cành trơ, tạo nên cảnh quan tuyệt mỹ cho pháo đài. Ở ven lối đi của quảng trường lại chủ yếu trồng cây mận, ngày trước, khi quân đội quốc gia đóng quân ở đây, họ đã trồng những cây này để bổ sung nguồn lương thực, mỗi khi hạ về, mận rơi đầy sân, cành nặng trĩu quả.

Kho đạn dược, dốc chuyển đạn

Audio tour

Kho đạn dược là một kiến trúc mái vòm, chuyên dùng để chứa đạn dược, bên trong có một bức tường ngăn cách lối đi và phòng bảo hộ. Trong kho đạn dược còn có hai cửa: một cửa nhỏ dành cho nhân viên, cửa còn lại là cửa lớn để vận chuyển đạn pháo. Để thuận lợi cho việc vận chuyển đạn pháo đến bệ, họ còn thiết kế một dốc chuyển đạn hình chữ Y rất đặc biệt, dốc bên phải dẫn đến khẩu pháo Armstrong's Rifled Breech Loader do Anh chế tạo, còn dốc bên trái dẫn đến khẩu Krupp Gun do Đức chế tạo.

Bệ pháo chính phía Tây Bắc

Audio tour

Năm ấy Lưu Minh Truyền thông qua công ty Jardine Matheson, thu mua 31 khẩu đại pháo từ nước ngoài, và đặt ở 10 tòa pháo đài theo phong cách phương Tây vừa xây xong ở khắp Đài Loan. Lúc đó pháo đài Hobe có hai khẩu Armstrong's Rifled Breech Loade của Anh, trong đó một khẩu 12 inch, một khẩu 10 inch, ngoài ra còn hai khẩu Krupp Gun 8 inch của Đức, bệ pháo tập trung ở hai bên hướng về phía biển.
Khẩu lớn nhất Armstrong's Rifled Breech Loade 12 inch được đặt ở vị trí tây bắc, giá pháo hình tròn xoay 360 độ, góc bắn có thể bao phủ toàn diện cửa sông Đạm Thủy và bờ biển phía Bắc, nhưng ngày nay chỉ còn lại dấu tích quỹ đạo của giá pháo. Tường chính trước nòng pháo được thiết kế có độ cong và lõm xuống nhằm tiện lợi cho việc nhắm bắn. Giai đoạn quân đội quốc gia trấn giữ thì đã cho đặt giá súng máy ở phía trước bệ pháo.

Bệ pháo chính phía Tây

Audio tour

Khẩu Krupp Gun của Đức và Armstrong's Rifled Breech Loade của Anh chế tạo đều là những vũ khí hiện đại nổi tiếng của nửa sau thế kỷ 19. So với khẩu Armstrong's Rifled Breech Loade 12 inch, thì khẩu Krupp Gun 8 inch có quỹ đạo giá pháo là nửa vòng tròn, dấu tích còn để lại nhỏ hơn rất nhiều, nên góc bắn cũng nhỏ hơn. Pháo đài Hobe có bốn bệ pháo, đều là dạng pháo nạp đạn từ khóa nòng, so với pháo nạp đạn từ miệng nòng thì loại pháo này nạp đạn từ phía sau và bịt chặt khóa nòng mới có thể bắn được. Lính điều khiển pháo nạp đạn từ khóa nòng đứng ở sau pháo, khó để lộ vị trí hơn. Tường chính bên cạnh bệ pháo,còn có vài lỗ hõm hình đạn pháo, dùng để dự trữ đạn pháo.

Dũng đạo phía Bắc

Audio tour

Dũng đạo là chỉ đường hầm dọc theo đường vành trong hình bán nguyệt của tường chính, đây cũng là nơi làm phòng ngủ binh lính, nhà kho, kho thuốc súng và không gian sinh hoạt hằng ngày. Các dũng đạo thông với nhau, làm tăng tính cơ động cho binh sĩ trong việc điều độ tác chiến. Thời kỳ quân đội quốc gia chiếm đóng, từng xây thêm nhà tắm và nhà bếp ở phía Đông Bắc, nay đã bị dỡ bỏ và khôi phục lại diện mạo ban đầu. Tường dũng đạo được xây bằng đá phiến, vật liệu đa phần là đá ở Qilian, phần ít là đá từ núi Quan Âm, bên trên dùng gạch đỏ xây thành cổng hình vòm cung bán nguyệt, trên tường gạch cứ cách một khoảng lại đục một lỗ tròn, thông từ dũng đạo ra bên ngoài để thoáng khí.

Dũng đạo ở phía Đông Nam

Audio tour

Gạch sử dụng để xây mái vòm của dũng đạo, là loại gạch đuôi én thường dùng ở thời Thanh, kích thước nhỏ hơn gạch phương Tây, mặt bên có thể thấy được vệt khói. Hai bên bên trong dũng đạo đều có một dãy lỗ nhỏ, nhưng công dụng và chức năng của chúng thì chưa được làm rõ, theo lời kể rằng chúng được sử dụng để dựng giàn giáo lúc xây mái vòm ở phía trên.
Cũng có người cho rằng đây thời quân đội quốc gia đóng quân, nền đất ẩm ướt, những lỗ hõm trên tường là để gắn ván gỗ ngăn cách hoặc mắc võng. Ngày nay một phần không gian của dũng đạo đạ được quy hoạch thành nơi trưng bày, đem lại cho pháo đài một phong cách hoàn toàn mới.

Trung tâm du khách

Audio tour

Sau khi ký kết Hiệp ước Thiên Tân năm 1858 và Hiệp ước Bắc Kinh năm 1860, Hobe trở thành một trong những cảng thông thương của Đài Loan, từ đó các cường quốc có quyền thông hành trên sông. Năm 1862 chính thức mở cửa thu thuế, năm 1863 John William Howell người Anh là người đầu tiên đảm nhiệm chức ty thuế vụ cửa khẩu Hobe, bắt đầu cho thời đại do người Tây nắm quyền ở Đài Loan.
Cửa khẩu Hobe là cơ quan thuế cửa khẩu quản lý mậu dịch đối ngoại của Đài Loan thời Thanh, đồng thời phụ quản những cửa khẩu khác như Cơ Long, An Bình, Đả Cẩu (Cao Hùng). Thời kỳ Nhật chiếm đóng, bồi tích ở cảng Đạm Thủy ngày một nghiêm trọng, nên tổng quan hải quan đã cho dời khỏi Đạm Thủy từ năm 1916, và chuyển dời đến cảng Cơ Long năm 1921.
Năm 1945, sau khi Đài Loan giải phóng, bến hải quan Đạm Thủy chuyển giao cho chính phủ hiện tại quản lý, sau đó đã từng có những đơn vị trấn thủ ở đây như đội Hải Quang Nghệ Công, Đội Tuần Tra Đường Biển, Trung Đội Hải Quân Tàu Tấn Công Nhanh 4 Và Đội Quân Lục Chiến Tiểu Đoàn 3 Đại Đội 7, và dần xây thêm phòng ốc bằng bê tông cốt thép. Tháng 6 năm 2000, chính phủ thành phố Tân Bắc công nhận Bến hải quan Đạm Thủy là di tích thành phố, và mở cửa tham quan dưới hình thức công viên văn hóa năm 2014. Do khung cảnh bên bờ sông tuyệt đẹp với tầm nhìn rộng, là nơi lý tưởng cho du khách ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn ở Đạm Thủy.

Nhà phong cách phương Tây

Audio tour

Cửa khẩu Đạm Thủy chia làm khu văn phòng cửa khẩu, khu quan thự và khu bến cảng. Khu văn phòng cửa khẩu được xây dựng năm 1869, trong đó có văn phòng làm việc, ký túc xá thuyền viên và nhà kho, nằm ở nhà để xe của bên dưới Hồng Mao Thành ngày nay, hiện tại đã không còn. Khu quan thự được xây từ giữa năm 1866 đến năm 1875, xây dần những nơi như quan thự ty thuế vụ và ký túc xá. “Quan thự ty thuế vụ của khẩu Đạm Thủy thời Thanh” mà người dân địa phương gọi là “Nhà Trắng thu nhỏ” chính là một trong những kiến trúc của khu quan thự.
Khu bến cảng được xây dần từ thời nhà Thanh, đến thời Nhật chiếm đóng mới hoàn thành. Khu bến cảng của cảng Đạm Thủy thời đó tập trung ở đoạn sau của phố Hobe, đối diện với Douglas Lapraik & Co. ngày nay. Còn đường ranh giới neo đậu của thương thuyền, kéo dài từ phía Tây của trạm điện ngầm ngày nay đến nơi lên tàu ở bến thuyền, cách một khoảng so với cửa khẩu Đạm Thủy. Năm 1893, bờ sông trước cửa văn phòng cửa khẩu, dần xuất hiện những kết cấu “hút nước” để neo đậu thuyền bè, khu vực bờ sông đối diện với văn phòng làm việc là phạm vi chủ yếu của khuôn viên bến hải quan ngày nay.

Nhà kho tòa B,C

Audio tour

Thời kỳ đầu khi Nhật chiếm đóng, bến cảng ở gần bờ sông Đạm Thủy đã có nhiều nơi “hút nước” kiểu bàn uốn nhô ra, nơi lên bờ và nơi dỡ hàng. Khi ấy giữa bến hải quan và cảng cá Hobe (cảng cá lớn nhất Đạm Thủy), còn có một bãi bồi lớn, cho đến năm 1900 mới bắt đầu công trình chôn lấp bãi bùn, tạo nên diện mạo ngày nay của bến sông Đạm Thủy.
Bến hải quan sau khi hoàn tất công trình chôn lấp, đã xây dựng thêm nhiều kiến trúc như nhà kho, ký túc xá, phòng kiểm tra.

Bờ đê bến cảng

Audio tour

Bến hải quan ngày nay là chỉ khu vực đối diện với văn phòng cửa khẩu thuếĐạm Thủy và quan thự lãnh sự Anh, phạm vi bảo tồn có thể chia làm đoạn Đông, đoạn giữa và đoạn Tây: đoạn Đông của bến được xây bằng những vật liệu như đá núi Quan Âm, sỏi, và bê tông; đoạn giữa chủ yếu là đá Qilian; đoạn Tây được dựng lên bằng đá núi Quan Âm xếp chồng lên nhau theo kiểu liên tục. Bờ đê bến cảng còn có những trụ cột thuyền vuông hoặc tròn.
Trước đây khi quân đội quốc gia tiếp quản bến cảng, do không mở cửa công khai, nên người dân khó có thể nhìn thấy diện mạo bên trong, nhưng cũng vì vậy mà bảo tồn được cảnh quan tĩnh lặng của bờ sông thời kỳ đầu. Nơi đây có vùng nội địa khoảng hơn 200 mét, là nơi quan trọng giữa phố cổ đến cảng cá, và cũng là nơi có thể nhìn ngắm mặt trời lặn ở Đạm Thủy, có vùng nội địa hoàn hảo và bối cảnh lịch sử đặc biệt.

Cổng ra vào

Audio tour

Nằm ở đoạn sau phố cổ đường Trung Chính ở Đạm Thủy, Douglas Lapraik & Co. là nhân chứng lịch sử cho việc mở cảng biển Đài Loan cuối thế kỷ 19 và lịch sử phát triển của vận chuyển hàng hải Bắc Đài Loan. Kiến trúc này chia làm tòa trước và tòa sau, được đặt tên theo chức năng ở thời đó, như tòa trước có “Khu kiểm tra số 1”, tòa sau có “Kho nhập hàng”.
Tòa trước của Douglas Lapraik & Co. được xây từ gạch đá có mặt tiền rộng 5 gian, trên mái lợp ngói âm dương, kết cấu chủ yếu có thể chia là cổng vòm liên tiếp bằng gạch ở chính diện, tường đầu hồi ở hai bên, và khung vòm bằng gỗ theo phong cách phương Tây ở bên trong. Trong đó kết cấu của cổng vòm liên tiếp, bao gồm cột cái và phần vòm, hai bên tường đầu hồi đều thuộc dạng tường chịu sức nặng, còn khung vòm gỗ là tổ hợp của khung kiểu hai mái dốc và vòm gỗ. Đây là khung vòm gỗ phỏng theo phong cách Gothic duy nhất có thể tìm thấy ở Đài Loan.
Tòa sau là dạng kiến trúc gian rộng hình chữ nhật, kết cấu gồm khung mái lợp, trụ cột, tường và móng nền. Khung mái lợp được dựng nên từ cột chính giữavà thanh kéo, có công dụng làm giá đỡ chủ yếu chống đỡ sức nặng của mái nhà. Ngoài ra, tường đầu hồi ở hai mặt Đông Tây xây theo kiểu tường gạch hình đẩu, nhưng tường ở phía Nam lại là 9 cổng gạch mái vòm liền nhau.
Douglas Lapraik & Co. trùng tu hoàn công vào tháng 3 năm 2013, kiến trúc này tiếp nối lịch sử của thương hiệu, và cũng thể hiện những ký ức và diện mạo lịch sử của Đạm Thủy, là điểm sáng về tài sản văn hóa trong liên kết giữa phố cổ Đạm Thủy và khu Phố Đỉnh

Cổng vào

Audio tour

Phòng trưng bày nghệ thuật Đạm Thủy (Tamsui Art Gallery, TAG) nằm trên số 298 đường Trung Chính, Đạm Thủy, là kiến trúc xanh đầu tiên của thành phố Tân Bắc, từng được bầu chọn làm kiến trúc xanh “cấp kim cương” của Đài Loan, địa chỉ cũ nằm ở khu 4 ký túc xá kiểu Nhật cho gia quyến cảnh sát dưới thời Nhật chiếm đóng, năm 2011 phối hợp với kế hoạch “Mạng du lịch nghệ thuật cửa sông Đạm Thủy” khu vực phía Bắc và đưa vào sử dụng, trở thành không gian sáng tạo văn hóa và nghệ thuật hoàn toàn mới của khu phố lịch sử Đạm Thủy.
Nhìn từ phía ngoài kiến trúc, đây là một tòa nhà cốt thép 4 tầng, chính diện có những cửa sổ lớn, đón ánh nắng tràn ngập vào bên trong, còn có thể ngắm nhìn cảnh đẹp của sông Đạm Thủy. Hình trụ tròn bằng đồng tựa như ống khói và bảng năng lượng mặt trời trên mái nhà, vừa có thể giúp đối lưu không khí, hạ nhiệt mùa hè, và cung cấp chiếu sáng vào ban đêm, tiết kiệm tiêu hao năng lượng. Ngoài ra, để bảo tồn mối liên kết lịch sử của kiến trúc, nội thất của tòa nhà đã được trang trí lại bằng những mảnh ngói của ký túc xá cũ đã bị tháo dỡ, làm nổi bật tính không gian, thời gian và tính độc đáo của kiến trúc này.
Ngày nay, tầng 1 chủ yếu là khu trưng bày và bán sản phẩm sáng tạo, tầng 2 có khu ăn uống và sân khấu đa năng, tầng 3 là nơi tổ chức các loại hình triển lãm nghệ thuật, hội thảo và trải nghiệm học tập do Viện Bảo tàng di tích Đạm Thủy định kỳ thực hiện, hy vọng thông qua những mô típ như môi trường nghệ thuật, suy nghĩ sáng tạo, tái sử dụng và hoạt hóa không gian, nâng tầm đời sống văn nghệ của địa phương. Đồng thời thông qua sự giao lưu trao đổi giữa người dân xung quanh, với cửa hàng và du khách, đẩy mạnh sự phát triển toàn diện của ngành văn hóa và du lịch của Đạm Thủy.

Cổng vào

Audio tour

“Không gian nghệ thuật Hỗ Thủy Nhất Phương” nằm ở tầng 3 và 4 trung tâm mua sắm Lệ Bảo ở cảng Ngư Nhân. Đây là công trình đóng góp cho cộng đồng thuộc Khách sạn du lịch và Trung tâm thương mại Phúc Dung, được chính phủ thành phố Tân Bắc ký hợp đồng xây dựng theo hình thức BOT với doanh nghiệp, nhằm làm nổi bật nét đặc sắc của khu du lịch cảng Ngư Nhân và nâng cao chất lượng phục vụ du lịch. Sau khi hoàn công vào năm 2011, quyền quản lý kinh doanh được trao trả cho Viện Bảo tàng di tích Đạm Thủy.
Hỗ Thủy Nhất Phương gồm 2 tầng lầu, diện tích chia làm 793 mét vuông và 1190 mét vuông, trước đây từng là không gian trưng bày nghệ thuật và khu văn hóa. Hiện nay tầng 3 được quy hoạch làm không gian triển lãm theo chủ đề đồ chơi xếp gỗ. Ngoài những tác phẩm xếp gỗ tinh tế và đa dạng được trưng bày, bên trong còn có bể đồ chơi xếp gỗ với chủng loại đa dạng và đồ dùng dạy học đồ chơi xếp gỗ, để cho du khách trải nghiệm và thóa trí sáng tạo, cảm nhận tính giáo dục và giải trí từ trong đồ chơi xếp gỗ. Đây là hoạt động không chỉ thích hợp cho gia đình, mà còn rất phù hợp với những hoạt động dạy học ngoại khóa của câu lạc bộ đội nhóm trường học hay lớp học thêm.

Cổng vào

Audio tour

Tada Eikichi là thị trưởng Đạm Thủy thời Nhật chiếm đóng. Ông nguyên quán ở thành phố Kobe, tỉnh Hyogo, Nhật Bản, gia tộc nhiều đời làm địa chủ có tiếng. Tada Eikichi là trưởng nam trong gia tộc, từ nhỏ quyết chí trở thành nhà tư bản công nghiệp. Lần đầu tiên ông đến Đài Loan là vào năm 1897, năm 1905 ông chuyển đến Đạm Thủy làm chủ quán rượu ở cửa khẩu Đạm Thủy, năm 1919 thành lập “Nhóm hưng nghiệp Đạm Thủy”, cổ vũ những người vừa làm ruộng vừa đánh cá ở Đạm Thủy đi theo nghề tay trái của gia đình. Từ giữa năm 1930 đến năm 1933, ông được giao cho chức Thị trưởng Đạm Thủy nhiệm kì thứ 4, tích cực xúc tiến kiến thiết đường xá, sửa sang thư viện và mở trường học công lập ở Đạm Thủy, đóng góp to lớn cho sự phát triển của Đạm Thủy thời đó.
Cố cư Tada Eikichi nguyên nằm ở ruộng công của trường Học Hải thời Thanh, sau này trở thành tài sản của Tập đoàn hợp tác giáo dục công nghiệp Nhật Bản. Kiến trúc này được xây dựng năm 1934, là căn hộ sớm nhất Đài Loan và Đạm Thủy có dẫn nguồn nước máy, khiến cho ngôi nhà này ngoài những ý nghĩa nhân văn của nó, còn là một bia đánh dấu cột mốc quan trọng trong lịch sử của khu vực.
Sau khi Đài Loan giải phóng, Tada Eikichi bán ngôi nhà với giá 6000 đồng, từ đó nơi đây trở thành nhà riêng trong thời gian dài. Do trong nhà có người sinh sống, nên việc tu sửa phòng ốc rất được chú trọng, giúp ích cho việc làm gia tăng tuổi thọ của kiến trúc. Tuy vậy, ngôi nhà này bị bộ Kinh tế thu lại với danh nghĩa tiếp quản tài sản của Nhật Bản, đăng ký quyền sở hữu dưới tên của Bộ Kinh Tế, và nắm giữ Chứng minh đăng ký đất đai. Sau nhiều lần thỏa hiệp, chủ hộ và bên quyền sở hữu là Bộ Kinh Tế đồng ý biến ngôi nhà thành di tích, do chính phủ thành phố cai quản.

Cừa vào Nam Môn

Audio tour

Đến cổng vào khu di tích Hồng Mao Thành, điều trông thấy đầu tiên là cánh cổng Nam Môn nằm ở bên cạnh cổng lớn với những dây leo xanh bám đầy. Đây là cổng thành bằng đá theo phong cách Trung Quốc, được truyền lại từ thời kỳ đầu nhà Thanh. Năm 1724, Phó Nhậm Đạm Thủy Vương Khiên cho trùng tu Hồng Mao Thành, xây thêm cổng lớn Đông, Tây, và cổng nhỏ Nam, Bắc, nhưng từ sau khi người Anh thuê lại tòa thành này, người Anh cho trùng tu tường thành và dỡ bỏ ba cổng Đông, Tây, Bắc, chỉ để lại cổng Nam Môn là cổng ra vào chủ yếu.

Kiến trúc phòng thuyết trình

Audio tour

Đây là ký túc xá thuyền phu của lãnh sự quán Anh, do kiến trúc sư J.C.Wynnes thiết kế vào năm 1933 theo kiểu ký túc xá phức hợp, hoàn thành vào ngày 25 tháng 4 năm 1934. Bên trong có thể ở 4 hộ, mỗi hộ có phòng khách, phòng ngủ và nhà bếp như nhau. Nhưng sau thời gian sử dụng, nhiều vách ngăn bị phá bỏ, nhà bếp cũng được sửa thành nhà kho, nhà vệ sinh công cộng vốn được xây bên cạnh tường rào nay cũng đã không còn.

Khu vực 9 lá cờ

Audio tour

9 lá cờ ở Hồng Mao Thành đại diện cho quá trình diễn biến lịch sử qua 300 năm của Hồng Mao Thành, từng trải qua sự quản lý hoặc thay quyền quản lý của Tây Ban Nha, Hà Lan, nhà Trịnh thời Minh, triều Thanh, Anh, Nhật, Úc, Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc.
Từ năm 1628 đến năm 1980, từng có 9 lá cờ của quốc gia hay chính quyền tung bay trên bầu trời Hồng Mao Thành: sớm nhất là người Tây Ban Nha, năm 1682 đã đến đây đầu tiên và xây dựng pháo đài San Domingo; năm 1642 người Hà Lan đuổi người Tây Ban Nha ra khỏi Đài Loan, người Tây Ban Nha trước khi ra đi đã cho phá hủy pháo đài, còn người Hà Lan cho xây pháo đài Antonio ở gần ngay vị trí pháo đài cũ, và cũng là Hồng Mao Thành ngày nay; thời Trịnh Thành Công từng cho lính đóng quân ở cửa sông Đạm Thủy, lấy Hồng Mao Thành làm kho lương thực; năm 1724, triều đình nhà Thanh cho tu sửa Hồng Mao Thành, và xây thêm 4 cổng thành.
Nhưng sau khi ký kết “Hiệp ước Thiên Tân”, Hobe mở cửa thông thương, triều đình nhà Thanh mất đi quyền lãnh sự và tự chủ thuế cửa khẩu. Năm 1867, Anh và nhà Thanh ký kết cho thuê vĩnh viễn, đặt Hồng Mao Thành làm lãnh sự quán Anh. Sau khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, cuối năm 1941, lãnh sự quán Anh ở Đạm Thủy bị Nhật phong tỏa, tạm do quan viên người Nhật quản lý cho đến khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc. Năm 1948, người Anh trở lại Hồng Mao Thành. Năm 1972, lãnh sự quán Anh rút khỏi Hồng Mao Thành, ủy thác cho nước thành viên trong Khối thịnh vượng chung Anh là Úc quản lý, cùng năm ấy khi quan hệ Trung-Úc tan vỡ, lại ủy quyền cho Mỹ quản lý. Năm 1979, Trung Mỹ cắt đứt quan hệ, qua những nỗ lực trao đổi thương lượng của chính phủ, nơi đây chính thức quay về dưới sự quản lý của chính phủ vào năm 1980.

Quảng trường thành chính của Hồng Mao Thành

Audio tour

Năm 1628, người Tây Ban Nha đến Đạm Thủy. Vì lý do quân sự nên cho xây “Thành San Domingo” ở cửa sông Đạm Thủy để làm căn cứ địa quân sự, chính trị, mậu dịch và truyền giáo. Năm 1642, người Hà Lan tiến công lên Cơ Long ở phía Bắc, đánh bại người Tây Ban Nha, xây dựng “Pháo đài Antonio” mới ở gần nơi thành San Domingo bị phá hủy, kiến trúc thành trì hình tứ giác này chính là xuất thân của Hồng Mao Thành Đạm Thủy. Do người dân địa phương thời ấy quen gọi người Hà Lan là “Hồng Mao”, cái tên “Hồng Mao Thành” cũng xuất phát từ đó.
Thành chính của Hồng Mao Thành hình vuông với kiểu xây dựng “ngoài đá trong gạch”. Bên trong chia làm 2 tầng, sử dụng kết cấu mái vòm hình ống nửa tròn, hướng của mái vòm tầng trên và tầng dưới vuông góc với nhau, giúp cho thành chính vững vàng hơn. Sau khi người Anh vào đây, ngoài việc thay mái nhà mũi nhọn thành mái bằng, cũng cho xây thêm góc lầu ở các vị trí Đông Bắc và Tây Nam. Ở mặt Nam tầng hai có ban công để tiện cho người dân đến làm việc, còn ở trên ban công ngoài trời đối diện sông Đạm Thủy và núi Quan Âm, có tường với lỗ châu mai, để tiện cho việc phòng vệ theo vị trí từ cao xuống thấp. Kết cấu kiên cố, cộng thêm thiết kế phòng vệ, giúp cho Hồng Mao Thành trở thành tòa thành quân sự dễ thủ khó công ở Đạm Thủy.
Thực ra bề ngoài của Hồng Mao Thành do người Hà Lan xây dựng có chút khác biệt so với hiện tại. Trước khi được trùng tu, tường thành mang màu xám trắng, cho đến khi người Anh thuê đất, mới xây thêm ban công ngoài trời trên tầng hai, lầu góc tầng thượng, và cũng cho tường bọc bên ngoài sơn thành màu đỏ như Hồng Mao Thanh ta thấy ngày nay.

Đất trống bên ngoài tầng 1 thành chính của Hồng Mao Thành

Audio tour

Trên mặt phẳng, thành chính có hình vuông, mỗi bên khoảng 15.25 mét, phía Tây hướng về eo biển Đài Loan, trấn giữ cửa ra biển của sông Đạm Thủy, phía Nam nhìn xuống sông Đạm Thủy, ngắm nhìn núi Quan Âm ở đối diện đằng xa. Tường của thành chính rất dày, khoảng 1.9 mét, bên trong tường được xây theo kiểu “ngoài đá trong gạch”, tường gần về phía trong là những hình vòm bằng gạch đỏ, phía ngoài được xây bằng đá. Lớp ngoài cùng của tường vốn được sơn màu xám đen dưới thời của Hà Lan để tăng tính yểm hộ, nhưng đến thời người Anh lại cho sơn thành màu đỏ theo phong cách thời thượng thời kỳ Victoria. Theo khảo sát cho thấy vật liệu sơn bên ngoài được sản xuất từ Jakarta, Indonesia, còn đá thì được khai thác tại địa phương.
Thành chính cao khoảng 13 mét, bên trong chia làm hai tầng trên dưới. Tầng dưới có hai mái vòm mở song song ở hướng Đông và Tây, còn tầng trên cũng có hai mái vòm song song, nhưng hướng của hình vòm hướng về phía Nam và Bắc khác với tầng dưới. Mái vòm tầng trên và tầng dưới vuông góc với nhau, ứng dụng nguyên lý lực học để làm tăng lực liên kết của những bức tường. Ở phía đông và Bắc của thành chính còn có hào nước rất sâu.

Sân có tennis

Audio tour

Môn quần vợt được khởi nguồn từ thế kỷ 14 ở Pháp, nhưng sân cỏ tennis sớm nhất lại được bắt dầu từ thời Victoria ở Anh. Người Anh không chỉ chơi tennis sân cỏ ở Anh, còn mang môn thể thao này đến Hồng Mao Thành vào thời kỳ thuê đất, và được xem như là hoạt động thư giãn của họ. Năm 1860, người Anh thuê Hồng Mao Thành làm Lãnh sự quán, và cho xây thêm nhà ở của lãnh sự ở phía Đông Hồng Mao Thành, tức là Quan thự lãnh sự quán Anh. Và sân cỏ rộng lớn trong Hồng Mao Thành và Quan thự lãnh sự quán Anh được người Anh dùng để làm nơi chơi tennis, ngồi trên hành lang của Quan thự lãnh sự, uống trà và thưởng thức trận đấu tennis, là một thú vui mang đậm phong cách Anh.

Khu pháo cổ Hồng Mao Thành

Audio tour

Hỏa pháo trong khuôn viên di tích, đa phần là do người Anh tìm thấy ở Đạm Thủy hoặc những khu vực khác, rồi đem sưu tầm những cỗ hỏa pháo này làm vật trang trí, nơi đây có thể thấy được pháo kiểu thời Thanh Trung Quốc và pháo kiểu Anh. Pháo của thời Thanh được tính theo đơn vị cân, gồm 500 cân, 800 cân và 1200 cân, vân vân… bên trên còn có khắc Thanh Gia Khánh, trong đó còn có pháo do Thủy Sư trấn thủ Hobe thời Gia Khánh để lại, thân pháo có khắc “ Gia Khánh thập bát niên hạ, phụng, hiến đào tạo Đài Loan, Bắc lộ Đạm Thủy doanh đại pháo, nhất vị trọng bát bách cân”
Còn về khẩu pháo ngắn của Anh, trên thân pháo có thể thấy huy hiệu của hình vương miện, phần đuôi thân pháo có vòng cố định, có thể dùng dây xuyên qua, từ đó biết được nó được sử dụng trên thuyền làm phòng ngự trong cự ly gần. Do loại pháo này sau khi bắn xong sức giật lùi lớn, nên cần hai người kéo dây giữ lại, cho thuốc pháo vào và bịt lại bằng quả pháo rồi châm ngòi, đây thường được gọi là pháo nạp đạn từ miệng nòng. Nếu thao tác sai sót sẽ gây nổ nòng, tức là làm nổ phần sau của thân pháo, do đó, trong khu di tích có một khẩu pháo bị phá hủy hoàn toàn, nếu đây là hành vi phá hoại của người Hà Lan trước khi rời đi thì đây là vật rất quý hiếm.

Bên ngoài quan thự lãnh sự Anh

Audio tour

Năm Quang Tự, người Anh cho rằng cần phải xây dựng thêm quan thự cho lãnh sự, nên năm 1877 đã dần cho xây thêm một tòa nhà một tầng làm quan thự lãnh sự quán Anh ở khu đất trống bên ngoài phía Đông thành chính của Hồng Mao Thành, tách biệt văn phòng làm việc và khu vực nhà ở. Nhưng vì ẩm ướt và côn trùng xâm hại, nên năm 1891 đã sửa lại thành kiến trúc gạch đỏ hai tầng lầu. Toàn bộ Quan thự lãnh sự chia làm hai tầng, còn tòa lầu hành lang hình vòm theo kiểu Tây là một kiểu kiến trúc điển hình ở những nơi Anh thực dân. Khu phía trước của quan thự là một bãi cỏ rộng lớn, kiến thúc chính nằm ở phía sau, toát ra phong cách nho nhã độc đáo, so với phong cách quân sự cương nghị của Hồng Mao Thành thì đúng là khác biệt.
Trên cột trụ ở hai bên cổng chính Quan thự lãnh sự có 12 bức tranh khắc gạch, trong đó có thể thấy trên gạch khắc chữ “VR1891”, VR là viết tắt của nữ hoàng Victoria nước Anh (Victoria Regina), 1891 là năm quan thự xây dựng hoàn tất. Đặc biệt nhất là trên bản khắc, có hình hoa Kế, là hoa đại diện cho Scotland, và hoa Tường Vi đại diện cho Anh, tranh khắc rất nho nhã và bắt mắt. Mái hiên của tường ngoài có dãy trang trí bằng gạch, bên ngoài hành lang lầu hai thì có đường vảy rắn, cả hai đều rất mỹ quan và hoa lệ.
Trên nền đất được nâng cao của Quan thự lãnh sự, trong đó có những lỗ khí hình “đồng tiền” kiểu Trung Quốc, thiết kế này ngoài công dụng thông gió, còn mang ý nghĩa “đại phú đại quý”, là cách làm thường thấy trong những kiến trúc kiểu Trung Hoa. Thiết kế mái nhà của quan thự, được gọi là “mái nhà nghiêng kiểu bốn dốc”, đặc trưng chủ yếu là trên giá nhà có lợp ngói đỏ Mân Nam, không chỉ tiện lợi cho việc thoát nước, còn có thể nâng cao không gian bên trong và có tác dụng cách nhiệt, đây là ý tưởng đặc biệt trong cách thiết kế của kiến trúc.

Địa lao và sân thư giãn ở tầng 1 thành chính Hồng Mao Thành

Audio tour

Trước khi bước vào tầng 1 thành chính, có thể thấy được nhà vệ sinh, phòng tắm, nhà bếp và nơi ở của lính tuần, đây đều là những nơi do người Anh xây thêm sau khi đến Hồng Mao Thành. Để thực hành quyền lãnh sự, Anh còn đem hai gian phòng lớn sửa thành bốn phòng giam nhỏ, để tập trung tạm thời những người nước ngoài phạm pháp ở Đài Loan, đợi ngày đưa về nước xử án. Trên cửa địa lao có thể thấy lỗ đưa thức ăn và lỗ quan sát. Đối với quốc gia cực kỳ chú trọng nhân quyền và sự tôn trọng như nước Anh, thì đương nhiên cũng cho quy hoạch một không gian hoạt động ngoài trời, đây chính là sân thư giãn, là nơi để phạm nhân phơi nắng và thư giãn gân cốt.

Tầng 2 thành chính Hồng Mao Thành

Audio tour

Khi người Hà Lan xây tầng 2 thành chính của Hồng Mao Thành, không gian rộng lớn như thế chỉ có một trụ cột duy nhất. Khi người Anh vào mới cho ngăn thành 4 gian, làm văn phòng làm việc của lãnh sự và thư ký, phòng khách, phòng ngủ và nhà bếp. Trong quá trình phục hồi Hồng Mao Thành, người ta phát hiện dưới nền gạch đỏ ở đáy mỗi cửa sổ, đều có thể mơ hồ thấy được một lỗ hõm, theo suy đoán đây được dùng để dựng giá pháo hoặc vòng xoay xe pháo, có lẽ được đặt từ thời Hà Lan. Ngoài ra, phía trong mặt tường phát hiện gạch đất làm từ bùn nguyên chất, trên đó còn có vết bùn và vỏ trấu, và một cánh cửa đã bị bịt chặt. Theo suy đooán thì đây là cánh cửa được làm từ thời kỳ đầu của Anh để tiện cho việc đi lại giữa nhà bếp và phòng khách, nhưng sau khi xây thêm ban công ngoài trời thì đã bịt cửa lại. Những thứ khác như két sắt văn kiện, hộp chìa khóa, kho bạc, lò đốt văn kiện, bình chữa cháy và xe em bé đều là di vật do người Anh để lại.
Bên trái cửa ra vào tầng hai, có một cầu thang gỗ rất dốc, dẫn đến sân trên mái nhà, giữa sân hơi nhô lên để tiện thoát nước. Xung quanh mái nhà có lỗ châu mai là do người Anh xây thêm, điểm đặc sắc là trên tường gạch có thêm một gờ đá. Nhìn chung thì thành chính của Hồng Mao Thành là kiến trúc kết hợp phong cách thành cổ của Hà Lan và Anh, kết cấu vững chãi, bề ngoài hùng vĩ, đứng sững ở cửa sông Đạm Thủy, làm chứng nhân lịch sử cho những sóng gió của Đài Loan.

Hành lang tầng 1 quan thự lãnh sự quán

Audio tour

Hành lang tầng 1 quan thự lãnh sự quán được thiết kế vòm hình cung, còn tầng 2 thì là dạng vòm nửa tròn, hành lang có tác dụng che chắn gió mưa, càng có thể cảm nhận khoảnh khắc nhàn hạ trong quan thự thời ấy. Lan can hành lang quan thự là lan can bình hoa men xanh, kết hợp đặc sắc giữa nghệ thuật làm gốm và lan can bình hoa của phương Tây.
Ngước lên quan sát kỹ tầng 1 của quan thự lãnh sự quán, trên trần hành lang ở hai mặt Đông Tây có thiết kế bản nền đặc biệt, sử dụng mái vòm sắt hình gợn sóng, dựng trên kèo sắt hình chữ I, loại kết cấu vô cùng đặc biệt này là kỹ thuật xây dựng xuất hiện ở cuối thế kỷ 19, khi bê tông cốt thép chưa được sử dụng phổ biến, thì đây là kỹ thuật xây dựng tiến bộ nhất thời đó.

Cổng vào tầng 1 quan thự lãnh sự quán Anh

Audio tour

Trong quan thự lãnh sự có rất nhiều phòng để lãnh sự và gia quyến ở. Quan thự tọa Bắc hướng Nam, nhìn từ trên cao là một hình chữ T.
Tầng 1 nằm trên nền đất được nâng cao 1 mét, từ cổng bước vào bên trong liền có thể thấy được cầu thang xoắn ốc lớn tinh xảo với tay vịn, phía Tây tầng 1 là phòng khách và phòng đọc sách, phía Đông là nhà ăn và phòng bếp, phía sau là nhà tắm của khách và phòng của người giúp việc. Tầng 2 có vài căn phòng ngủ lớn, và vài phòng tắm, phòng khách, nhà ăn và phòng ngủ chính, trong mỗi căn đều có lò sưởi.
Trong đó gạch mang hoa văn hình học trên sàn nhà phòng khách, lối vào và nhà ăn đều là gạch lát nền được nhập khẩu từ nước ngoài, rất đáng để dừng chân thưởng thức.

Nhà ăn tầng 1 quan thự lãnh sự quán Anh

Audio tour

Nhà ăn trong Quan thự lãnh sự được thiết kế trang nhã ấm cúng, phía sau còn thông với một gian để chuẩn bị thức ăn, trong quan thự có giai cấp rõ ràng và quản lý nghiêm ngặt ở thời đại ấy, người hầu không được tùy ý bước vào trong không gian của lãnh sự. Vì thế, khi đầu bếp chuẩn bị xong thức ăn ở nhà bếp, thì sẽ do người hầu đem đến phòng chuẩn bị thức ăn, đợi đến khi dọn món lại mang đến lỗ chuyển thức ăn, và giao cho người hầu phục vụ nhà ăn mang lên bàn. Ở bên cạnh lò sưởi và cửa nhà ăn có đặt chuông gọi phục vụ, lãnh sự chỉ cần ấn nút, thì tiếng chuông ở máy tổng bộ sẽ reo lên, bảng số chỉ vị trí cũng sẽ rơi xuống, từ đó quản gia biết được vị trí của lãnh sự, và đến nơi phục vụ.

Phòng khách tầng 1 quan thự lãnh sự Anh

Audio tour

Khi người Anh rời khỏi, họ đã mang đi phần lớn vật dụng, hiện nay những đồ dùng nội thất và trang trí còn nhìn thấy được là khung cảnh mô phỏng dựa trên ảnh chụp và tư liệu lịch sử.
Điều duy nhất không thay đổi từ năm 1891 đến nay, là nền gạch dưới chân, đây còn gọi là gạch nền Victoria, cũng có người gọi đây là gạch Mosaic. Đặc sắc của chúng là sự pha trộn của đấtvà màu nhuộm rồi đem nung, độ cao và màu sắc như nhau, không sợ mài mòn hay bay màu, loại gạch này ở Anh cũng đã không còn sản xuất, nên càng quý hiếm hơn. Rèm cửa cuốn hình hoa lớn là màu sắc thịnh hành nhất thời đó. Trong phòng khách có lò sưởi, nhưng đối với những lãnh sự đến từ xứ vĩ độ cao hơn này thì lò sưởi không phải để sưởi ấm, mà là để nguôi ngoai nỗi nhớ quê nhà, đồng thời cũng có tác dụng chống ẩm. Quạt máy treo trần của phòng khách và nhà ăn được sản xuất bởi G.E.C. Kingsway của Anh vào năm 1941 và được gìn giữ cho đến ngày nay.

Phòng sách tầng 1 quan thự lãnh sự Anh

Audio tour

Phòng khách và phòng sách chỉ cách nhau một bức tường, nhưng gạch lót sàn hoàn toàn khác nhau, thể hiện rõ rệt sự phân chia rạch ròi giữa không gian công cộng và riêng tư của người Anh. Thông thường, những không gian công cộng như phòng khách, lối ra vào, nhà ăn, nhằm thể hiện thân phận và khí chất của gia chủ, sẽ bày trí hoa lệ hơn những không gian riêng tư như phòng sách và phòng ngủ, do vậy có thể thấy kiểu dáng của lò sưởi trong phòng sách đơn giản hơn nhiều so với phòng khách.
Còn có một phù hiệu tượng trưng cho chủ quyền của Anh, trong thời gian Anh thuê đất, từng được treo trên cổng Nam Môn và thành chính của Hồng Mao Thành. Phù hiệu gốc đã bị người Anh mang đi theo, phù hiệu hiện đang trưng bày trong phòng sách là vật mô phỏng.

Chuông gọi người hầu và không gian người hầu ở tầng 1 quan thự lãnh sự Anh

Audio tour

Người Anh rất xem trọng không gian của giai cấp, và phân chia rõ rệt không gian của chủ nhân và người hầu. Trong quan thự lãnh sự Anh, bên trong kiến trúc hình chữ T ngược ấy, phía trước là tòa nhà 2 tầng, là không gian của chủ nhân, còn phía sau là không gian hoạt động của người hầu, chỉ khi chủ nhân cần, người hầu mới có thể bước vào không gian của chủ nhân.
Đồng thời, cầu thang ở cửa ra vào chỉ có chủ nhân có thể sử dụng. Khi bước đến lối liên thông giữa khu vực của chủ nhân và người hầu, sẽ thấy một cầu thang khác nhỏ hẹp hơn, người hầu trong quan thự chỉ có thể sử dụng cầu thang này để di chuyển lên xuống phục vụ chủ nhân.
Trong khu vực của người hầu ở tầng 1 quan thự có đặt chuông gọi người hầu, là một thiết bị máy tổng chuông báo tiện cho chủ nhân gọi người hầu đến. Nút nhấn của chuông báo nằm ở những nơi như lối ra vào, phòng khách, nhà ăn, phòng ngủ, vân vân… Khi chủ nhân nhấn nút gọi ở các phòng, thì máy tổng sẽ kêu lên, đồng thời bảng số chỉ vị trí phòng sẽ rơi xuống, để người hầu biết được nơi nào đang cần phục vụ ngay.

Vật liệu xây dựng dũng đạo

Audio tour

Vật liệu xây dựng phần dưới dũng đạo là đá Qilian, một dạng đá sa thạch, do bên trong dũng đạo khí ẩm nghiêm trọng, những phiến đá này trải qua thời gian dài trong môi trường ẩm thấp, nên phủ đầy rêu xanh. Theo lẽ thường, trong đá có chứa thành phần thạch anh (silica), dưới ánh nắng mặt trời sẽ phát ra những tia sáng lấp lánh rất bắt mắt, nay đã bị cấm khai thác, nhưng đó là thành phần vật liệu quan trọng trong kiến trúc của Đài Loan thời trước.

Kết cấu kiến trúc của dũng đạo

Audio tour

Phần trên của dũng đạo được xây bằng gạch theo hình vòm cung. Đây là gạch thủ côngvận chuyển từ Hạ Môn sang, những viên gạch chồng lên nhau và được trát tam hợp thổ (gồm gạo nếp, đường nâu và vôi) để kết dính với nhau. Cộng thêm đặc trưng lỗ hõm trên dưới của gạch Hạ Môn, làm tăng ma sát trên bề mặt gạch, và như kết cấu lỗ mộng bằng gỗ, kết cấu hình vòm cung này có thể chịu cây to và lớp đất dày khoảng 2 mét lấp bên trên, đây là kiểu kiến trúc rất vững chãi.

Di tích lỗ hõm trong dũng đạo

Audio tour

Ở hai bên tường đá Qilian của dũng đạo có hai dãy lỗ hõm hình chữ nhật đối xứng nhau, nhưng các lỗ này không thông đến bên ngoài, theo những suy đoán hợp lý cho rằng, đây là chứng cứ lịch sử từ thời nhà Thanh, khi xây pháo đài, những lỗ hõm này từng được sử dụng để lắp giàn giáo và xây phần mái nhàvòm cung bên trên. Vật đổi sao dời, pháo đài trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, từ nhà Thanh, thời Nhật chiếm đóng , thời chính phủ Quốc dân, thời quốc quân đóng quân, dũng đạo từng được dùng để làm phòng ở cho binh sĩ, quốc quân tận dụng những lỗ hõm trên tường hai bên để đặt ván gỗ, bên trên là giường sàn cho binh lính nghỉ ngơi, bên dưới là lối đi và phòng dự bị quân sự.

Vách ngăn dũng đạo

Audio tour

Theo suy đoán cho rằng, khi nhà Thanh xây dựng tường chính của dũng đạo, thì đây là lối đi thông với tất cả các hướng, và không có vách ngăn ở giữa, binh sĩ có thể đi lại ngay bên trong dũng đạo mà không cần ra ngoài, được thiết kế với mục đích giữ an toàn cho binh sĩ. Vách ngăn hiện tại, có lẽ là để đáp ứng nhu cầu sử dụng của quân đội quốc gia. Bức tường với cấu trúc bằng xi măng rõ rệt, gạch trên tường cũng không giống với gạch Hạ Môn. Vách ngăn này có lẽ được xây từ thời quân đội quốc gia đóng quân ở đây, việc ngăn cách không gian bên trong dũng đạo có lẽ nhằm nâng cao tính cơ mật và phân chia cấp bậc giữa quan và binh sĩ.

Cửa sổ kéo gỗ

Audio tour

Cửa sổ lưới bằng gỗ, theo suy đoán thì phần gỗ được xây lắp lại theo kết cấu cũ trong quá trình tu sửa. Dạng cửa sổ gỗ này rất phổ biến trong kiến trúc nhà dân địa phương thời đó,có thể điều tiết ánh sáng, không khí và gió. Đây là bằng chứng cho sự kết hợp giữa Đông và Tây, bởi pháo đài là kiến trúc phương Tây, nhưng cửa sổ lại theo phong cách phương Đông. Số song gỗ trên cửa sổ là số lẻ, cũng là con số may mắn phù hợp với phong thủy dương trạch (số lẻ là dương, số chẵn là âm).

tận dụngkhông gian trong dũng đạo

Audio tour

Pháo đài Hobe là pháo đài kiểu Tây từ thời nhà Thanh để lại, tương đối hoàn chỉnh, năm dân quốc thứ 1985 được liệt vào di tích cấp hai quốc gia, nay đổi tên là di tích quốc gia, là một kiến trúc lịch sử rất quý giá, từ khi mở cửa đón khách đã thu hút lượng lớn người đến tham quan. Bên trong dũng đạo ngoài những trưng bày cố định, cũng tổ chức nhiều loại triển lãm khác nhau trong khung thời gian bất định. Để không phá hoại bản thể của di tích, giàn sắt này được dựng lên trong một triễn lãm trước đây, được dùng để treo vật phẩm chứ không phải giá đỡ mái nhà.

Cao đẳng Oxford

Audio tour

Cao đẳng Oxford là ngôi trường được xây dựng bởi George Leslie Mackay, người có mối quan hệ sâu đậm với Đạm Thủy. Năm 1880, Mackay lần đầu tiên quay về Canada để báo cáo về thành quả truyền giáo của mình trong suốt 8 năm ở Đài Loan, và nhận được sự khẳng định to lớn từ đồng bào mình. Nhưng họ không đành lòng nhìn cảnh ông “ngồi dưới gốc đa, trời xanh làm mái, cỏ xanh làm chiếu” khi tập huấn học sinh, nên đồng bào quận Oxford đã nhiệt tình đóng góp cho Mackay để ông quay về Đài Loan xây dựng trường học. Mackay đã dùng số tiền này để mua đất, tự tay thiết kế, giám công xây dựng nên ngôi trường hiện đại hóa này. Ngôi trường kiểu mới đầu tiên của Đài Loan này khánh thành và khai giảng vào tháng 7 năm 1882, được đặt tên là “Cao Đẳng Oxford” nhằm kỷ niệm sự đóng góp của những người dân quận Oxford, tên tiếng Anh là “Oxford College”, người đời sau cũng gọi đây là Học đường Oxford.
Vật liệu xây dựng của Cao đẳng Oxford dùng gạo nếp, đường đen và vôi trộn với cát thay cho xi măng, gạch được vận chuyển từ Hạ Môn sang, vị trí tọa Bắc hướng Nam, phỏng theo tứ hợp viện của Đài Loan, là một kiến trúc kết hợp cả hai phong cách Đông và Tây. Cao đẳng Oxford nằm trong khuôn viên của trường Đại Học Chân Lý, phụ cận có Hồng Mao Thành, Quan thự ty thuế vụ cửa khẩu Đạm Thủy thời Thanh, trường nữ sinh Đạm Thủy, Mộ viên Mackay, Mộ viên ngoại kiều và Lầu tám góc, vân vân…, đây đều là những kiến trúc có ý nghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật to lớn.

Điền Khê Công Ty nhà cổ họ Trình

Audio tour

“Điền Khê Công Ty nhà cổ họ Trình” là căn hộ truyền thống được công nhận “Kiến trúc lịch sử” của khu Đạm Thủy thành phố Tân Bắc. Năm xây dựng của nhà cổ không rõ, theo nhận xét của những học giả chuyên gia cho rằng có lẽ được xây từ năm 1884 trước chiến tranh Pháp Thanh, khi hai bên giao tranh ở Hobe, quân Thanh đã đóng quân ở đây, vây đánh và chiến thắng quân Pháp. Nhà cổ nằm trong khu quy hoạch của khu đô thị mới Đạm Hải ở Đạm Thủy, mang đậm nét đặc sắc kiến trúc gần trăm năm và văn hóa đời sống của người Mân Nam ở Đạm Thủy. Lịch sử khai phá khu vực Điền Khê Công Ty bắt đầu từ thời Hà Lan ở đây, nhà cổ họ Trình là nhà vườn lớn duy nhất còn sót lại trong khu vực, xung quanh có hàng trúc bao quanh, có khe nước chảy qua, kết cấu căn nhà là kiến thức tam hợp viện tiêu biểu cho thời đại xã hội nông nghiệp cũ, toàn bộ được bảo tồn hoàn chỉnh, là nhân chứng lịch sử của quá trình khai phá Đạm Thủy.
Trong thời gian trụ sở Hiệp hội Du lịch Nông nghiệp Đạm Thủy thành phố Tân Bắc đặt ở đây, đã mang những hoạt động trải nghiệm văn hóa, giáo dục nông thôn và du lịch vào trong tam hợp viện mộc mạc cổ xưa này, khiến nhà cổ họ Trình trở thành trung tâm sáng tạo, sinh hoạt nghệ thuật của thành phố Tân Bắc.

Long Sơn Tự Đạm Thủy

Audio tour

Có 5 ngôi Long Sơn Tự nổi tiếng ở Đài Loan, Long Sơn Tự Đạm Thủy, Long Sơn Tự Bangka Đài Bắc, Long Sơn Tự Đài Nam, Long Sơn Tự Phụng Sơn và Long Sơn Tự Lộc Cảng. Long Sơn Tự Đạm Thủy được xây dựng vào năm 1858, chủ yếu thờ Quan Âm Bồ Tát. Trước đây, ngôi tự này trước có quảng trường, sau có hoa viên, gần đó còn có khu họp chợ mang tính đại diện của Đạm Thủy. Năm 1884, trong giai đoạn chiến tranh Pháp Thanh, tương truyền Quan Âm Bồ Tát hiển linh, phù hộ cho cư dân Đạm Thủy bình an vô sự, tô đậm thêm thần tích của ngôi tự.
Long Sơn Tự Đạm Thủy tọa Tây hướng Đông, là một kiến trúc đơn giản mộc mạc theo phong cách truyền thống của Mân Nam, bố cục dài và hẹp, và có những bức tượng thần được điêu khắc bằng đá hoặc gỗ rất tinh xảo. Do nằm trong khu phức hợp giữa khu nhà ở và buôn bán trong chợ truyền thống, khiến cho Long Sơn Tự Đạm Thủy như bị vùi đi trong những phiên chợ, người ngoài khó có thể chú ý đến. Cổng vào phía Đông ngôi tự nằm liền với đường Thanh Thủy ở phía Nam, bị những con buôn cố định lấn chiếm trong thời gian dài, làm cho đường Thanh Thủy vốn đã nhỏ hẹp trở thành nơi tụ tập buôn bán, đã thế mỗi sạp lại tự dựng những mái che nối tiếp nhau suốt dọc đường, biến đường Thanh Thủy trở thành một “hẻm tối”. Tuy phần nào gây ảnh hưởng đến vệ sinh trong khu vực, nhưng những “hẻm tối” đặc trưng của đường phố Đài Loan đã không còn nhiều, nên đây lại càng quý giá hơn.

Phúc Hựu Cung Đạm Thủy

Audio tour

Do khí tượng thủy văn biển của Đài Loan khó lường, những người di dân ngày xưa buộc phải vượt qua dòng “hải lưu đen” nguy hiểm để đến Đài Loan, nếu không may mắn thì có thể sẽ phải bỏ mạng ngoài khơi. Để diễn tả mức độ gian nan trong việc vượt biển, thời ấy còn có câu tục ngữ “6 chết 3 sống 1 quay về”. Vì thế, người di dân thường hay đến miếu Thánh Mẫu để cầu bình an trên đường đến Đài Loan trước khi lên thuyền, đợi khi sự nghiệp thành công sẽ xây một miếu ở Đài Loan trả lễ, từ đó Thánh Mẫu trở thành tín ngưỡng phổ biến nhất trong dân gian Đài Loan. Phúc Hựu Cung Đạm Thủy được xây dựng năm 1782, đến năm 1796 thì khánh thành, do cảng Hobe thời đó là bến đỗ của những thuyền nhập cư vào bồn địa Đài Bắc, thu nhận rất nhiều quyên góp của những người đến từ những nơi khác nhau, phản ảnh lòng tin đồng nhất vào Thánh Mẫu từ nhân sĩ khắp nơi. Phúc Hựu Cung nằm trên phố cổ Đạm Thủy, là điểm khởi đầu của Kiā-á-tíng (nay là đường Trùng Kiến), cũng là trung tâm của phố Hobe, có thể thấy ngôi miếu này có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của phố Hobe.
Phúc Hựu Cung Đạm Thủy tọa Bắc hướng Nam, phía trước gần kề với sông Đạm Thủy, phía sau dựa vào kiā-á-tíng (nghĩa là đỉnh đồi), là vị thế địa lý lý tưởng “minh đường tụ thủy, hậu đường tọa sơn”. Những điêu khắc bằng đá là điểm nổi bật và đặc sắc nhất trong trang trí của miếu, đa số được điêu khắc từ đá quan âm, đề tài biến hóa đa dạng, từ những động vật mang ý nghĩa tượng trưng như kỳ lân, rồng, bạch hổ, hỷ thước, dơi, đến miêu tả khung cảnh đời sống xã hội nông nghiệp “ngư, tiều, canh, độc” thời đó, tạo hình mộc mạc chân chất và sống động. Đặc sắc nhất là bức điêukhắc trêngạch, khắc những hình ảnh ngụ ý cuộc sống hạnh phúc, sung túc, trường thọ, phản ánh hy vọng vào cuộc sống của người xưa.

Ngân Sơn Tự

Audio tour

Trong lịch sử đền miếu nhà Thanh, cả Đài Loan chỉ có hai ngôi Định Quang Phật Tự, một ngôi là Định Quang Am ở Chương Hóa thuộc miền Trung, ngôi còn lại là Ngân Sơn Tự ở Đạm Thủy. Ngân Sơn Tự Đạm Thủy được xây dựng vào năm 1822, đến nay vẫn còn giữ được gần như nguyên diện mạo vốn có ngày xưa, thậm chí cả những tượng đất mà thông thường các ngôi chùa khó bảo tồn, thì ở đây vẫn khá là nguyên vẹn, có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu lịch sử kiến trúc Đài Loan. Ngân Sơn Tự không chỉ là trung tâm tín ngưỡng của những người Hẹ (Khách Gia) di dân từ Mân Tây Thinh Châu, đồng thời còn là “hội quán” của những di dân nơi đây. Vì thế, gian phòng hai bên trái phải của Ngân Sơn Tự có vài phòng khách để làm nơi ở tạm cho những người đồng hương.
Bố cục của Ngân Sơn Tự phản ánh những nét đặc sắc của kiểu kiến trúc Vĩnh Định, vị thế tọa Đông hướng Tây, phía sau là núi Đại Đôn như ghế dựa, phía trước là cửa sông Đạm Thủy, hình thế hùng vĩ tráng lệ, đây là thế “thiềm thừ huyệt” trong thuật phong thủy.Và có lẽ để cho phù hợp với cách nói này, nên họ đã cho mở hai miệng giếng ở khoảng đất trống ở hai bên phía sau ngôi tự để làm thành mắt thiềm thừ, hồ bán nguyệt ở phía trước làm miệng thiềm thừ, biến nơi đây thành mảnh đất phong thủy quý giá với thế “minh đường tụ thủy, hậu đường tọa sơn”. Những tượng sư tử, hổ, kỳ lân ở tiền điện khi xây dựng cũng được thiết kế tỉ mỉ, sư tử vờn “Kỳ” và “Cầu”, còn kỳ lân thì vờn “Kích” và “Khánh”, hợp lại với nhau thì sẽ được câu đồng âm “Kỳ cầu cát khánh”, từ mọi ngóc ngách của Ngân Sơn Tự đều có thể thấy được sự biết ơn của người xưa đối với ơn trên và mảnh đất này.

Nhà kho cũ của thương nhân Anh

Audio tour

Năm 1862, cửa khẩu Đạm Thủy chính thức bắt đầu thu thuế, cảng Đạm Thủy nhanh chóng trở thành cảng lớn nhất Bắc Đài Loan, chiếm hơn 60% lượng mậu dịch của cả Đài Loan, trong đó trà, than và long não là mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất. Năm 1897, công ty Royal Dutch Shell mua lại thương hiệu Cass, và nhập vào chuỗi liên kết mậu dịch ở khu vực viễn đông. Sau đó công ty đã dần cho xây dựng thêm nhà kho, bể chứa dầu, để làm kho lưu trữ dầu, đồng thời xây dựng tuyến đường sắt nối với đường sắt Đạm Thủy, dùng container để vận chuyển dầu khí, từ đó nơi này được gọi là “Nhà kho Shell”. Thời kỳ đầu do các sản phẩm dầu khí gây mùi hôi nồng nặc, từng bị người dân Đạm Thủy gọi là “Trạm dầu thối”. Tháng 10 năm 1944, quân Mỹ không kích Bắc Đài Loan, hố dầu bị trúng bom và bốc cháy, đám cháy liên tục suốt 3 ngày đêm mới dập tắt được, và sự kiện “Lửa thiêu trạm dầu thối” đã trở thành ký ức không thể nào quên của người dân Đạm Thủy. Từ đó về sau, nhà kho Shell dần tiêu điều, chỉ còn được dùng để làm kho dự bị.
Di chỉ còn lại nơi đây gồm 4 nhà kho lớn, 3 căn nhà nhỏ, và một bể chứa dầu, diện tích gần 1.324 héc ta, là chứng nhân lịch sử cho nhưng thời khắc trọng đại của Đạm Thủy như mở cảng, Nhật chiếm đóng, bị Mỹ không kích trong thế chiến thứ hai, và cũng là một trong số ít những di tích công nghiệp của Đài Loan. Tháng 6 năm 2000 được chính phủ công nhận là di tích, công ty Shell cũng quyên hiến di tích trăm năm này cho hiệp hội văn hóa địa phương, tức Hội văn hóa Đạm Thủy. Trong khuôn viên có “Nhà kể chuyện Shell Đạm Thủy”, trưng bày lịch sử và quá trình phát triển của nhà kho Shell, đây cũng là nơi được sử dụng làm trường đại học khu dân cư Đạm Thủy, và tổ chức một số hoạt động văn hóa văn nghệ.

Bệnh viện Hobe Mackay

Audio tour

Năm 1879, giáo sĩ Mackay nhận được sự quyên góp từ góa phụ của thuyền trưởng cùng họ Mackay người Mỹ, nên đã cho xây dựng bệnh viện, và để kỷ niệm thuyền trưởng Mackay, đã đặt tên cho tòa kiến trúc kết hợp phong cách Đông Tây này là “Bệnh viện Hobe Mackay”. Đây là bệnh viện kiểu Tây đầu tiên của Đài Loan. Năm 1884, chiến tranh Pháp Thanh lan đến Đạm Thủy, bệnh viện nhận việc cứu hộ, cấp cứu cho dân quân bị thương, và được Lưu Minh Truyền biểu dương khen thưởng. Năm 1901, giáo sĩ Mackay từ trần, bệnh viện đóng cửa, cho đến năm 1906 khi y sĩ Dr. J.Y.Ferguson người Canada đến Đài Loan mới mở cửa lại. Không lâu sau, cảng Đạm Thủy ngày một tiêu điều. Nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại, mở rộng quy mô của bệnh viện, đồng thời cũng để kỷ niệm Mackay, người đã đi tiên phong trong ngành y học của Đài Loan, năm 1912 Bệnh viện tưởng niệm Mackay Đài Bắc được khánh thành, còn bệnh viện Hobe Mackay công thành danh toại.
Bệnh viện Hobe Mackay được thiết kế bởi giáo sĩ Mackay, kiến trúc như nhà ở của người Mân Nam, có mái ngói kiểu Mân Nam nhưng cửa và cửa sổ lại hình vòm cung như phương Tây rất thú vị, kiến trúc được xây dựng bởi thợ hồ nổi tiếng của Đạm Thủy. Tuy bề ngoài của bệnh viện mộc mạc, bố cục bên trong vuông vức đơn giản, nhưng ở thời đó, đây là một bệnh viện được hiện đại hóa, có hồ sơ bệnh án, báo cáo y học, sử dụng thẻ gỗ trắng đen để đánh dấu bệnh nhân khám lần đầu hay tái khám khi họ đến đăng ký khám bệnh, và trong khi đợi đến lượt bệnh nhân còn được giáo dục về vệ sinh an toàn sức khỏe. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ vào năm 1912, bệnh viện còn từng được sử dụng làm học viện thần học, thư viện, nhà trẻ và ký túc xá học sinh, toàn bộ kiến trúc cũng theo đó thay đổi, đến năm 1992 thì tu sửa hoàn tất.

Nhà thờ Đạm Thủy

Audio tour

Nhờ có sự tác động của tiến sĩ Mackay, Đạm Thủy trở thành nơi căn cứ phát triển của giáo hội Cơ đốc Trưởng Lão ở Bắc Đài Loan. Từ khi đến Đạm Thủy vào ngày 9 tháng 3 năm 1872, Mackay liền rất tích cực bắt tay vào công việc truyền giáo, và cũng chuyên tâm học tập tiếng Mân Nam và văn hóa địa phương. Ngôi nhà ông thuê ban đầu không những trở thành bệnh viện, còn là nơi truyền giáo và là giáo đường đầu tiên.
Năm 1901 sau khi Mackay qua đời, giáo hội Đạm Thủy cũng bước vào một thời đại mới. Do nhu cầu thực tế và phát triển, nhà thờ được sửa sang lại theo kiểu Bắc Mỹ vào năm 1915, với tường gạch trắng xám, thường được gọi là nhà thờ trắng, tháp chuông được đặt ở phía trên cổng chính. Năm 1928, do không thể đáp ứng như cầu sử dụng nên lại quyết định sửa đổi, chi phí tu sửa ngoài phần cống hiến của những thành viên giáo hội, hoc sinh và những giáo hội thân hữu khác, đa phần là do con trai Mackay, George William Mackay xin hỗ trợ từ tổng hội Canada, đồng thời đích thân thiết kế và giám sát, năm 1932 khởi công, đến ngày 30 tháng 9 năm 1933 thì hoàn thành. Ngày nay nhà thờ xinh đẹp trên phố cổ Đạm Thủy đã trở thành địa điểm tham quan nổi tiếng.

Cửa thoát nước trên mặt đê cảng

Audio tour

Bến cảng Hải quan có vai trò rất quan trọng trong lịch sử cận đại của Đài Loan, ngày nay nơi này vẫn có thể thấy được những kiến thiết từ thời nhà Thanh, thời kỳ Nhật chiếm Đống và sau chiến tranh. Khi cảng Đạm Thủy còn phồn vinh, từng có thuyền bè của hơn mười quốc gia neo đậu, những ngôi nhà Tây trong khu vực cảng từ thời Thanh, và hai nhà kho cảng vụ từ thời Nhật, đều là những kiến trúc đã chứng minh cho lịch sử mở cửa thông thương của Đạm Thủy.
Từ vị trí này nhìn về phía đối diện đầu cầu, có thể thấy được cửa thoát nước trên mặt đê, khi triều lên nước sông sẽ che lấp cả cửa thoát nước. Do cửa thoát nước được đặt thẳng với mặt đê, nên chỉ có thể quan sát được từ đây. Một bộ phần cửa thoát nước trong khu cảng được gắn song sắt, theo suy đoán có lẽ được dùng để ngăn động vật hay tránh tắt nghẽn bởi tạp chất, chất thải của sông.

Thuyền tam bản ở bến cảng Hải quan Đạm Thủy

Audio tour
Augmented Reality (AR)

Cửa khẩu Đạm Thủy vào nửa sau thế kỷ 19 từng là cảng mậu dịch thông thương lớn nhất Đài Loan, do bị nghẽn bùn ở cửa sông, và hệ thống đường ray xe lửa của Đài Loan được hoàn thành, nên cảng Cơ Long dần thay thế địa vị của cảng Đạm Thủy, và những thương thuyền lớn hay thuyền buồm từng đi lại ở cảng Đạm Thủy, nay chỉ còn lại những thuyền tam bản.
Đặc điểm lớn nhất của thuyền tam bản Đạm Thủy, là những hình ảnh mắt cá được vẽ ở đầu thuyền, thường được cho rằng những thuyền thừa hưởng truyền thống của những thuyền đi lại giữa Đại Lục và Đài Loan từ thời Thanh, họ vẽ những họa tiết này để mong thuyền được phù hộ và bình an. Từ mắt cá có thể phân biệt đây là thuyền hàng hay thuyền đánh cá. Thuyền hàng thì mắt cá sẽ nhìn thẳng về phía trước, tượng trưng cho thuyền có thể phân định rõ phương hướng, và nhanh chóng đến nơi bình an, còn thuyền cá thì mắt cá sẽ nhìn xuống dưới, tượng trưng cho việc có thể quan sát hoạt động của đàn cá bên dưới, cầu mong được mẻ bội thu.
Do ảnh hưởng của kỹ thuật đóng thuyền hiện đại và những vấn đề về sức chịu sóng của thuyền, những thuyền ngày nay được thiết kế với nguyên lý cơ học chất lưu, ngoại hình càng lúc càng thuôn. Hình ảnh những chiếc thuyền tam bản truyền thống đang dần biến mất trên mặt sông.

Cửa khẩu Hobe phồn hoa

Audio tour
Augmented Reality (AR)

Cửa khẩu Hobe là dạng cửa khẩu theo biên chế mới (còn gọi là dương quan hay hải quan), thu thuế cửa khẩu hàng hóa quốc tế, thời đó còn có dạng cửa khẩu thường (hay còn gọi là quan cũ), trưng thu thuế hàng hóa giao dịch quốc nội. Trước khi mở cảng, đối tượng mậu dịch chủ yếu của Đài Loan là Trung Quốc Đại Lục, còn Nhật Bản và Nam Dương chỉ là thứ yếu, sau khi mở cảng, nơi này nâng cấp thành thương cảng quốc tế, thu hút đối tượng mậu dịch toàn cầu. Năm 1888, doanh số ngoại thương của cảng Hobe đạt đến đỉnh điểm, chiếm 74.9% doanh số ngoại thương của cả Đài Loan.
Nhờ sự thịnh vượng của thương mại xuất khẩu, mang lại thương mại nhập khẩu và đưa lượng lớn nhân sự vào ngành, không những làm tăng dân số địa phương, còn dần thu hút những người nhập cư từ Trung Quốc ùa vào, đồng thời cũng sinh ra những đại gia tộc như Lâm gia ở Bản Kiều. Cũng bởi vì sự phồn vinh của cảng Đạm Thủy, thu nhập thuế từ trà và long não của miền Bắc lấn át miền Nam, làm chuyển dịch trọng điểm kinh tế của Đài Loan, và cũng là nguyên nhân quan trọng khiến cho Lưu Minh Truyền dời trung tâm chính trị ra phía Bắc. Thương mại phồn thịnh nâng dần mức doanh thu hằng năm của Đài Loan, và cũng là nguyên nhân chủ yếu giúp cho Đài Loan có thể xây dựng những thiết bị hiện đại hóa như đường sắt, lắp đặt cáp và điện báo vào cuối thời Thanh.

Hồ Trung Nghĩa

Audio tour

Bến cảng hải quan từ sau được quân đội tiếp quản, đã cho xây dựng thêm nhiều tòa kiến trúc mới. Hồ nằm ở cổng ra vào của khu di tích được gọi là “Hồ Trung Nghĩa”, tượng trưng cho tác phong “trung nghĩa” của lính hải quân. Ngày nay bên hồ Trung Nghĩa có bia đá đề “Giảo du tứ hải”, chứng minh rằng hải quân từng đóng quân ở đây, và cũng làm chứng cho giai đoạn lịch sử do quân đội tiếp quản của khu vực này.

Cây si quý nho nhã đi qua nửa thế kỷ

Audio tour

Vừa bước vào bến cảng Hải quan Đạm Thủy, lọt vào tầm mắt là khung cảnh rộng lớn tuyệt mỹ của núi Quan Âm và cảnh sông Đạm Thủy, và một trong những cách tốt nhất để nhìn ngắm cảnh quan bến cảng Hải quan là ngồi dưới bóng mát của cây si bên bờ đê, tận hưởng những phút giây nhàn hạ trong tĩnh lặng.
Cây si ở bến cảng Hải quan Đạm Thủy, thân cây to đến nỗi phải nhiều người nối tay nhau mới ôm hết được, tán cây xòe như mái che lộng lẫy, trên bờ đê gần đoạn dốc lên thuyền ở khu vực ngắm hoàng hôn, cành cây vươn dài ra đến bờ đê, rũ xuống mặt nước, khung cảnh thi vị nho nhã.
Cây si là loài cây rễ phụ, có hiệu quả cao trong việc bảo vệ đất và nước ở vùng đất bằng phẳng, đồng thời có tác dụng ngăn gió cát, rất thích hợp trồng ở ven biển hay ven sông đẻ là rừng chắn gió. Bến cảng Hải quan Đạm Thủy ở gần cửa sông, đất ẩm ướt, tương đối thích hợp trồng cây si, thời Nhật chiếm đóng, thuế quan Đạm Thủy trồng khá nhiều cây si ở xung quanh, tạo nên nét đặc sắc to lớn cho phong cảnh bờ sông này.

Phía Tây bến cảng và khu bí mật ở bến cảng

Audio tour
Augmented Reality (AR)

Vị trí hiện tại là bờ đê phía Tây của bến cảng Hải quan, khu phía Tây bến cảng được bắt đầu xây dựng vào khoảng năm 1901, cấu tạo và vật liệu đa phần đều như khu phía Đông, nhưng cột để neo thuyền là một khối bê tông hình trụ tròn, rất khác so với khu phía Đông, theo suy đoán có lẽ được xây dựng sau này. Bến cảng Hải quan Đạm Thủy có tầm nhìn rất tốt, có thể ngắm nhìn cầu Quan Độ, núi Quan Âm, sông Đạm Thủy và cảng Đài Bắc ở đằng xa. Nơi đây nằm lọt trong những rặng cây, nên du khách thường bỏ sót hay không để ý đến, vì thế nơi đây là điểm ngắm cảnh biển đẹp nhất mà chỉ có những người dân địa phương mới biết, đáng để gọi rằng đây là khu bí mật Hải quan.

Những tháng ngày ở bến cảng do quân đội tiếp quản

Audio tour

Tấm ảnh này có lẽ được chụp vào khoảng những năm 1951~1961, khi còn sử dụng xe kéo. Thời đó đường phố chỉ có hai làn, chưa phát triển thành bốn làn như ngày nay. Người chụp ảnh có lẽ đã đứng chụp từ con đường trước cổng chính Phòng thí nghiệm gia súc ở cạnh Hồng Mao Thành.
Trong ảnh, tòa lầu A và nhà kho tòa lầu B của bến cảng Hải quan rất rõ nét, còn có khung bóng rổ thường thấy trong những trại lính. Quân đội từng cho xây dựng ký túc xá ở bên cạnh nhà kho B, C, nay đã bị dỡ bỏ và thay thành thảm cỏ để làm khu nghỉ ngơi hay dã ngoại của người dân. Ngoài ra, đây còn là nơi tổ chức những triển lãm nghệ thuật lớn, để cho người dân tham quan và chụp ảnh.

Nhà kho thời kỳ Nhật chiếm đóng

Audio tour

Khu vực cảng được xây dựng từ thời nhà Thanh, đến giai đoạn cuối năm 1920 khi Nhật chiếm đóng thì hoàn công, suốt quá trình biến đổi đó dần hình thành nên diện mạo cảng của ngày nay. Trong đó giữ lại hai nhà kho vốn được dùng để chứa hàng, tường được xây bằng gạch đỏ, không gian bên trong còn xây thêm tường gỗ, khung cửa và cửa sổ được sơn màu trắng, tạo nên sự tương phản rõ rệt về màu sắc. Từ khung nhà đến kiểu tường đều được xây dựng theo cấu trúc kiểu Tây, là một kiến trúc đơn giản nhưng rất hữu dụng.
Bến cảng Hải quan nằm ở cửa sông, bình thường rất ẩm ướt, ngoài việc phải phòng chống mưa bão, khi thủy triều lên còn có thể sẽ xảy ra hiện tượng nước biển tràn bờ. Ngày xưa những hàng hóa để trong kho cần được giữ cho khô ráo và ngăn ngừa mốc hỏng, nên lỗ thông gió của hai nhà kho B, C được thiết kế trong cao ngoài thấp, khiến cho không khí khi từ ngoài thổi vào trong, sức nặng của không khí ẩm khó có thể bay vào bên trong, còn khi sóng biển đánh vào lỗ thông gió bên ngoài, nước cũng khó chảy vào trong kho. Vào thời kỳ chưa có những thiết bị như máy điều hòa, thì đã xuất hiện những thiết kế độc đáo như thế này, có thể thấy được sức sáng tạo của những kiến trúc sư thời ấy.

Độc đáo vì kèo mái nhà nhà kho

Audio tour

Vì kèo là kết cấu hình tam giác lớn để chống đỡ mái nhà, cũng là kết cấu mái nhà thường được sử dụng trong những nhà kho kiểu Tây, vì bên trong cần sức chứa lượng lớn hàng hóa, nên sử dụng kết cấu vì kèo khiến cho không gian mái lớn hơn, làm rộng diện tích của cả kho.
Đạm Thủy có 3 nhà kho gần trăm tuổi, và có 3 dạng vì kèo khác nhau, gồm nhà kho Bến cảng Hải quan Đạm Thủy (di tích thành phố), nhà kho cũ của thương nhân Anh (di tích thành phố), và nhà kho của Douglas Lapraik & Co. (kiến trúc mang tính tưởng niệm), những nhà kho này đều gần trăm tuổi, rất đáng để tham quan.
Nhà kho B, C của bến cảng Hải Quan (hình trên), là kiểu vì kèo cột giữa (King post truss), tức là trong kết cấu hình tam giác có cột trụ ở giữa. Dạng vì kèo này rất phổ biến ở Đài Loan, nhất là trong những nhà kho, nhà thờ hay mái che sân ga xe lửa thời những năm 1920.
Nhà kho cũ của thương nhân Anh (hình bên phải phía dưới), là kiểu vì kèo cột ngẫu (Queen post truss), tức là trong đặt hai cột trụ bên trong kết cấu hình tam giác, có thể tìm thấy trong nhà kho B, C của khu di tích.
Nhà kho của Douglas Lapraik & Co. (hỉnh bên trái phía dưới), khu kiểm tra số 1 ở tòa trước có kết cấu vòm bằng gỗ phỏng theo phong cách Gothic, tạo hình độc đáo ưu mỹ, là nơi độc nhất trên toàn Đài Loan.

Loading...
Preview Mode